“Mỗi làng một sản phẩm”: Chìa khóa thành công của nhiều làng nghề ở Nhật Bản

Đào Tùng/TTXVN - https://tiepthinongsanviet.org.vn

OVOP được triển khai đầu tiên ở tỉnh Oita và Tiến sỹ Morihiko Hiramatsu, người đã từng giữ chức Thống đốc Oita, được coi là “cha đẻ” của phong trào này.

Trong quá trình công nghiệp hóa, không ít làng nghề nổi tiếng ở nhiều quốc gia đang dần mai một hoặc biến mất trên bản đồ thế giới. Tuy nhiên, điều đó lại không xảy ra ở Nhật Bản cho dù đây là một trong bảy nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Ở nước này, nhiều làng nghề với các nghề thủ công truyền thống vẫn tồn tại và hoạt động rất hiệu quả. Điều này một phần là nhờ phong trào “mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) – một mô hình hợp tác có xuất xứ từ tỉnh Oita, phía Nam Nhật Bản, cách đây hơn 40 năm.
OVOP được triển khai đầu tiên ở tỉnh Oita và Tiến sỹ Morihiko Hiramatsu, người đã từng giữ chức Thống đốc Oita, được coi là “cha đẻ” của phong trào này. Năm 1979, ông Hiramatsu được bầu làm Thống đốc tỉnh Oita nhiệm kỳ đầu tiên. Khi đó, Oita có dân số khoảng 1,2 triệu người.

Ông Hiramatsu đã từng chia sẻ ở một diễn đàn về OVOP rằng trong những ngày đầu mới nhậm chức thống đốc, ông không biết nhiều về quản lý địa phương. Tuy nhiên, ngay từ đầu, ông đã đề xuất triển khai phong trào OVOP nhằm xây dựng quê hương thành một nơi mà mọi người có thể tự hào. Ông nói: “Mục tiêu đầu tiên của tôi là tăng thu nhập bình quân đầu người bởi vì, thu nhập của người dân ở tỉnh Oita vào thời điểm tôi nhậm chức là rất thấp, và khoảng cách giữa thủ đô Tokyo và khu vực nông thôn là rất lớn”.

Tham gia OVOP, mỗi làng, xã sẽ lựa chọn và sản xuất một hoặc một số sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Sự tập trung sản xuất đi kèm với tập trung tài chính và nhân lực sẽ góp phần tạo ra những sản phẩm có chất lượng và có tính cạnh tranh cao, qua đó góp phần tăng doanh thu và cải thiện cuộc sống của người dân.
Theo ông Hiramatsu, phong trào này được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản gồm: mang lại sức sống mới cho mỗi làng, xã bằng cách tận dụng các nguồn lực tại chỗ để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; tự lực và sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực địa phương.

Lý giải về nguyên tắc thứ nhất, ông Hiramatsu nói: “Chúng tôi có thể khuyến khích một công ty chuyển tới Oita và xây dựng nhà máy sản xuất ô tô. Đó là một cách để thúc đẩy sự phát triển của địa phương bằng cách sử dụng nguồn lực bên ngoài. Tuy nhiên, thay vào đó, chúng tôi đã quyết định tận dụng triệt để tiềm năng của các nguồn lực địa phương để tạo ra các sản phẩm đặc biệt có giá trị gia tăng cao”.
Tuy nhiên, ông Hiramatsu cho biết mục tiêu của phong trào không chỉ đơn thuần là sản xuất đồ lưu niệm cho các du khách mà còn tạo ra các sản phẩm đặc biệt của địa phương có thể bán tại không chỉ Tokyo mà còn thị trường quốc tế. Nói cách khác, mục tiêu của OVOP là sản xuất và bán các sản phẩm có thể có danh tiếng toàn cầu. Sản phẩm nấm shiitake trồng ở Oita là một ví dụ điển hình. Nhờ OVOP, hiện nay, nấm shiitake của Oita chiếm 29% thị phần nấm shiitake ở Nhật Bản. Đáng chú ý, nấm donko shiitake do tỉnh này sản xuất có giá tới 3.000 yen (gần 28 USD)/lạng.
Đối với nguyên tắc thứ hai, ông Hiramatsu giải thích OVOP là một phong trào tạo điều kiện cho sự phát triển địa phương thông qua việc giúp người dân ở đó nhận thức rõ tiềm năng và tối đa hóa tiềm năng đó bằng tinh thần tự lực. Ông nhấn mạnh: “Chính người dân địa phương chứ không phải các quan chức chính phủ là người quyết định sản xuất sản phẩm gì…

Người dân chính là động lực của OVOP”.
Thị trấn Oyama ở thành phố Hita thuộc tỉnh Oita là một ví dụ như vậy. Sau Thế chiến Thứ hai, Chính phủ Nhật Bản đã kêu gọi nông dân nước này đẩy mạnh trồng lúa và chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, Oyama là một thị trấn nhỏ, với 3.800 dân, nằm sâu ở trong những dãy núi, hầu như không có đất để canh tác và không có đồng cỏ để chăn nuôi bò. Vì vậy, người dân ở đây đã quyết định không tuân theo định hướng của Chính phủ mà chuyển sang trồng cây hạt dẻ và mơ. Với khẩu hiệu “Hãy trồng hạt dẻ và mơ và đi du lịch ở Hawaii”, hợp tác xã nông nghiệp Oyama đã khởi động chiến dịch vực dậy kinh tế thị trấn này.

Họ đã chế biến nhiều sản phẩm từ mơ và bán sản phẩm này thông qua các kênh tiêu thụ trên khắp toàn quốc. Nhờ việc sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thu nhập của người dân ở đây đã liên tục tăng. Bên cạnh đó, lợi tức nông nghiệp ở Oyama vẫn liên tục tăng trong lúc lợi tức nông nghiệp ở Nhật Bản giảm. Năm 2004, tổng sản lượng nông nghiệp của tỉnh Oita tăng 0,91 lần so với năm 1980, nhưng ở Oyama lại tăng gấp 1,76 lần, cao nhất trong tỉnh Oita.

Bên cạnh đó, ông Hiramatsu lưu ý chính quyền không nên hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người dân bởi vì, nếu bạn trợ cấp cho họ thì nhiều khả năng họ sẽ không thực hiện OVOP khi không còn các khoản trợ cấp đó. Tuy nhiên, theo ông Hiramatsu, chính quyền có thể cung cấp tư vấn kỹ thuật cho người dân, đồng thời hỗ trợ họ quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Chẳng hạn, chính quyền tỉnh Oita đã hướng dẫn người dân làm thế nào để trồng nấm shiitake hay chế biến đồ uống từ chanh kabosu và quảng bá sản phẩm ở Tokyo.
Đối với nguyên tắc thứ ba, ông Hiramatsu nhấn mạnh “việc phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu quan trọng nhất của OVOP”. “Chúng ta cần phải nuôi dưỡng nguồn nhân lực sáng tạo, có thể thách thức những thứ mới mẻ trong nông nghiệp, thương mại, du lịch và nhiều lĩnh vực khác”.
Để thực hiện mục tiêu này, chính quyền Oita đã xây dựng trường đào tạo ‘Toyo-no-kuni’ cho người dân địa phương và ông Hiramatsu chính là hiệu trưởng đầu tiên của ngôi trường này. Các học sinh của trường là những người nông dân, nhân viên các hợp tác xã nông nghiệp, nhân viên văn phòng và thậm chí cả các giáo viên của các trường phổ thông. Họ chỉ đến đây học vào những buổi tối trong khi ban ngày vẫn đi làm.

Họ không học theo các giáo trình được viết sẵn. Thay vào đó, các điển hình thành công trong phong trào OVOP sẽ được mời tới để trình bày kinh nghiệm của mình. Mỗi khóa học như vậy kéo dài 2 năm. Cho đến nay, có hàng ngàn người đã tốt nghiệp từ ngôi trường này, trong đó không ít người đã trở thành ủy viên hội đồng tỉnh hay thị trưởng.

Với sự hỗ trợ của chính quyền tỉnh Oita, từ một vài sản phẩm tham gia OVOP ban đầu, đến năm 2001, tổng số sản phẩm tham gia OVOP ở 11 thành phố và 47 đô thị của tỉnh Oita lên tới 336. Tổng giá trị sản xuất tăng từ 36 tỷ yen năm 1979 lên 141 tỷ yen.
Sau thành công của OVOP ở Oita, nhiều tỉnh, thành khác ở Nhật Bản đã tới đây học hỏi và phát động các phong trào tương tự như “Sản phẩm của làng” hay “Chương trình phát triển thành phố quê hương”. Số lượng sản phẩm bán ra đã tăng từ 143 loại, với thu nhập là 35,9 tỷ yen khi phong trào này bắt đầu, lên 336 loại với thu nhập 141 tỷ yen vào năm 2001. Nhiều làng nghề bị mai một được khôi phục, trong khi có 200 nghề mới được tạo dựng.

Và không chỉ có Nhật Bản, nhiều địa phương khác trên khắp thế giới đến Oita để học tập mô hình OVOP của tỉnh này như Thượng Hải (Trung Quốc), Đông Java (Indonesia) hay Los Angeles (Mỹ). Theo ông Hiramatsu, chỉ riêng trong tài khóa 2005, tỉnh Oita đã tiếp đón hơn 1.000 người từ 24 quốc gia/vùng lãnh thổ trên khắp thế giới tới học hỏi về phong trào OVOP.

Hiện nay, phong trào này đã lan rộng ra nhiều quốc gia, khu vực và đã trở thành một mô hình hiệu quả cho việc mở rộng sản xuất, tăng tính cạnh tranh và phát triển kinh tế nhiều làng, xã trên khắp thế giới./.

Làng nghề dệt ở tỉnh Tottori, Nhật Bản. Ảnh: Đào Tùng/TTXVN

Bài liên quan:

Phát triển nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ lớn để phát triển đất nước. Trong đó, việc tiếp tục đẩy mạnh chương trình OCOP có vai trò quan trọng, “hạt nhân” tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, khối lượng lớn thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Gần 45 nghìn sản phẩm đạt từ ba sao

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), sau gần ba năm triển khai chương trình OCOP (mỗi xã một sản phẩm) giai đoạn một 2018-2020) đã có những kết quả tích cực, có 4.469 sản phẩm đạt từ ba sao trở lên của 59 tỉnh, thành phố, vượt 1,86 lần so với mục tiêu đề ra.

Các địa phương đã tổ chức 66 hội chợ về sản phẩm OCOP (cấp tỉnh, huyện) với trên 10 nghìn gian hàng; 1.016 hợp đồng, bản ghi nhớ hợp tác giữa các chủ thể OCOP và đơn vị thương mại được ký kết. Trong đó, 354 chủ thể có sản phẩm được phân phối ổn định trong các hệ thống siêu thị, nhất là Central Retail, Saigon Coop, Mega Market… và một số siêu thị địa phương.

Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo đã được các địa phương triển khai hiệu quả như: hội chợ OCOP thường niên của tỉnh Quảng Ninh; chuỗi sự kiện kết nối sản phẩm các vùng miền của TP Hà Nội; nhịp cầu xúc tiến thương mại và đầu tư gắn với OCOP của tỉnh Đồng Tháp;… Từ đó, góp phần tạo sức lan tỏa, nâng cao hình ảnh sản phẩm và thương hiệu OCOP Việt Nam trên thị trường.

Các sản phẩm OCOP sau khi được công nhận đã gia tăng giá trị, góp phần giúp các chủ thể tăng quy mô sản xuất và doanh thu. Kết quả đánh giá của các địa phương cho thấy, có 60,7% chủ thể OCOP đạt từ ba sao trở lên có doanh thu tăng bình quân 17,6%/năm; giá bán các sản phẩm sau khi được chính thức công nhận OCOP tăng bình quân 12,2%.

Đánh giá về hiệu quả Chương trình OCOP giai đoạn một, Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường nhận định: Nhiều sản phẩm được gắn sao OCOP có chất lượng rất tốt, mẫu mã của sản phẩm vùng núi không kém gì các sản phẩm tinh xảo của miền xuôi, thậm chí là quốc tế. Số lượng các sản phẩm đạt ba sao trở lên đạt gần 4.500 cho thấy, sự thành công của chương trình giai đoạn một.

Sản phẩm OCOP khẳng định được vị thế trên thị trường -0
Các sản phẩm OCOP góp phần tăng thu nhập cho người dân. 

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, vì là chương trình mới, nên giai đoạn đầu triển khai OCOP, một số địa phương còn nhiều lúng túng trong cách làm, xác định lợi thế, tiềm năng và chủ thể sản xuất. Ngoài ra, mới chỉ tập trung vào hoàn thiện các sản phẩm đã có, chưa quan tâm phát triển sản phẩm mới gắn với vùng nguyên liệu, đặc biệt là các làng nghề truyền thống.

Nhiều chủ thể chưa hiểu rõ về định hướng, yêu cầu của chương trình, đặc biệt là các quy định của pháp luật trong sản xuất và phân phối sản phẩm, do đó còn nhầm lẫn giữa chất lượng sản phẩm với bao bì và nhãn mác.

Phát huy vai trò đầu tàu của sản phẩm OCOP

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018-2020, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng cũng cho rằng, chương trình OCOP vẫn bộc lộ hạn chế, trước hết sự vào cuộc của một số địa phương còn chậm, một số địa phương có biểu hiện “chạy theo phong trào” thành tích. Đây là điều cần chấn chỉnh vì chưa đi vào thực chất, dựa vào lợi thế đặc trưng văn hoá, dân tộc. Chưa thực sự quan tâm đến giải pháp hỗ trợ cụ thể cho chương trình OCOP.

Nhiều sản phẩm OCOP quan tâm tới mẫu mã mà chưa chú trọng chất lượng, quy mô sản phẩm OCOP còn khiêm tốn. Công tác xúc tiến thương mại còn manh mún, thiếu đồng bộ, chưa thu hút được người tiêu dùng. Nguồn vốn phát triển OCOP còn khó khăn… Vai trò động lực của doanh nghiệp, HTX còn hạn chế. Chương trình chưa có nhiều doanh nghiệp lớn tham gia, chủ yếu là DN, HTX tâm huyết đứng ra làm.

Trước thực trạng trên, Phó Thủ tướng yêu cầu việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ lớn để phát triển đất nước. Trong đó, việc tiếp tục đẩy mạnh chương trình OCOP có vai trò quan trọng, “hạt nhân” tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, khối lượng lớn thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn mạnh mẽ hơn, người dân nông thôn được cải thiện đời sống, văn hóa. Đây là vấn đề hết sức quan trọng để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sản phẩm OCOP khẳng định được vị thế trên thị trường -0
 Phát triển sản phẩm OCOP cần gắn với đặc trưng vùng miền của từng địa phương.

Phó Thủ tướng cũng chỉ đạo trong thời gian tới, Bộ NN-PTNT chủ trì phối hợp với các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt Chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025, muộn nhất vào tháng 6-2021.

Trong đó lưu ý những sản phẩm có lợi thế, đặc trưng của địa phương, gắn với yếu tố văn hóa, con người ở mỗi khu vực, vùng miền, dân tộc để phục vụ phát triển kinh tế du lịch; từng bước định hướng, nâng cao chất lượng, tăng cường đổi mới, sáng tạo, đặc biệt đối với sản phẩm OCOP đạt cấp độ quốc gia nhằm mở rộng và thúc đẩy thị trường.

Ngoài ra, phải chú trọng phát triển các loại hình tổ chức kinh tế tham gia Chương trình OCOP. Ưu tiên hỗ trợ một cách thực chất hơn các hợp tác xã, doanh nghiệp, phát huy vài trò đầu tàu trong các chuỗi giá trị sản phẩm OCOP. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá một cách bài bản, đồng bộ và thường xuyên, tăng cường quản lý giám sát sản phẩm OCOP, xây dựng thương hiệu OCOP quốc gia làm cơ sở để đẩy mạnh thị trường và tiếp cận thị trường quốc tế.


THANH TRÀ

By TiepThiNongSanViet.Org.Vn

You might also like

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.

Chào mừng anh chị đến với TTNSV

X